Chào mừng quý vị đến với website KHÁM PHÁ TRI THỨC.
Lời hẹn mùa thu
Mình hẹn hò nhau đi hết mùa thu
Vừa nắm tay em gió đã lùa xa cách
Trên trời cao mây bạch mã ồn ào phi nước kiệu
Anh đuổi mãi theo gửi gắm một câu thề.
Mình đang bước trên nẻo đường hy vọng
Em có thấy không màu cỏ đã xanh dần
Sao chẳng đợi anh phía bên kia ngày cũ
Thu trôi qua sông rưng rức gọi sâm cầm.
Mình hẹn hò nhau đi hết mùa thu
Mười năm chập chờn tình anh không ngủ
Màu thạch thảo loang tím nhiều do dự
Cuộc tình âm thầm vừa rơi rụng tay em.
Rồi ngày mai khi nắng vừa lên
Chốn tan chảy chẳng còn chờ anh nữa
Nơi anh đứng mọc loài hoa tim vỡ
Vài sắc ti gôn ngơ ngẩn cuối con đường.
Em nỡ quay lưng trăng khuyết lại không tròn
Anh vẫn đợi chờ dấu chân mòn đá sỏi
Điều bí mật mùa thu thay anh nói
Anh đã hẹn bài thơ chờ anh đón em về...
![]() |
Tự khúc
Em trở về trong gam màu u uẩn
Bức họa mười năm dang dở lại luân hồi
Tôi như tìm thấy tôi
Từ ánh mắt môi cười xa xưa ấy
Em bước giữa chập chờn sáng tối
Khuya khoắt quỳnh hương khuôn mặt người tình
Tôi ngồi nhấp chén trà thay ước nguyện
Buồn lo ơi xin hãy ở bên ngoài.
Và tôi sẽ hát em nghe những khúc ca đổ buồn hiên vắng
Mây gió dập dìu mưa nắng dung dăng
Và tôi sẽ kề vai cho em khóc
Nếu kỷ niệm xưa trỗi dậy bàng hoàng.
Em hãy lại gần đây, để thấy tôi vẫn là tôi ngày cũ
Đốm lửa cô đơn tràn lối em về
Đời lẩn khuất giữa trăm ngàn gương mặt
Em có còn thấu tỏ được tôi không?
Bóng tối đằm sâu nâng nhẹ phím dương cầm
Phía bên kia là căn phòng hạnh phúc
Phía bên này tôi vẫn còn thao thức
Chờ bước em qua ngưỡng cửa đêm dài…
Vọng mùa
Mùa Thu đã nói gì cùng em
Mà bước chân chợt ngập ngừng do dự
Mưa gió đã tàn phía bên kia giấc ngủ
Buồn làm gì cho đêm trắng chênh vênh.
Mùa Thu đã nói gì cùng anh
Phía nào cũng em khắp bốn bề phố hẹp
Hết phong ba mặt trời vàng chực khóc
Vạt mây chiều trôi lãng đãng bên song.
Mình có gặp nhau phía cuối cầu vồng
Dải thiên hà triệu triệu năm ánh sáng
Nhỡ mai mốt em dùng dằng không đến
Để lửa tàn ta lỗi hẹn mười năm.
Mình có gặp nhau như nước ngược dòng
Nơi chốn ấy là đầu nguồn thanh khiết
Ta bắt đầu tình yêu bên trời biếc
Thoáng rộng dài cơn nắng quái gian nan.
Mùa Thu đi qua hết mọi trái ngang
Trải lối đón tình riêng đôi lứa
Từ phương em anh vẫn hằng ấp ủ
Những xa xanh nhung nhớ gọi tên mùa…
HUỲNH KHÁNH PHONG
Trịnh Ngọc Thanh @ 19:11 12/12/2012
Số lượt xem: 7149
- Mai Phương, vùng mỏ đời người và cây bút (02/12/12)
- Xa lắc mùa thu (02/09/12)
- Mẹ - Cội nguồn yêu thương! (01/09/12)
- Về thăm mẹ (07/04/12)
- Chông chênh (30/03/12)



Từ phương em anh vẫn hằng ấp ủ
Những xa xanh nhung nhớ gọi tên mùa…
…
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân đi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về, cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy đời chiến chinh mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương người vợ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng.
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành chiếc bình hương tàn lạnh vây quanh.
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói.
Không được trông nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím.
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ.
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa!…
Một chiều rừng mưa ba người anh
từ chiến trường Đông Bắc
biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng.
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chôn mộ chí.
Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo sách vai tôi hát trong màu hoa.
“Áo anh sút chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm
Mẹ già chưa khâu …”
Xuân đã đến rồi em
Xuân đã đến rồi em
Phút giao thừa xa cách
Hương vàng đừng vội đốt
Khói ùa mắt anh, cay... (Lê Mạnh Duy, Đức)
Xuân đã đến rồi em
Thư vài dòng nhắn gửi
Giữa giờ làm, viết vội
Gửi em và các con
Xuân đã đến rồi em
Bà còn đau hay đỡ
Nhớ đừng quyên thuốc sắc
Giở giời, lưng bà đau.
Xuân đã đến rồi em
Trời mưa rơi, trở lạnh
Nhớ nhắc con mặc ấm
Hé cửa khói hương bay.
Xuân đã đến rồi em
Nhà bánh chưng, có luộc?
Nhớ tăng thêm vài chiếc
Cho con sáng, đến trường.
Xuân đã đến rồi em
Nội ngoại, khách đến thăm
Nhớ giùm anh, chúc Tết
Mừng các cháu đến chơi.
Xuân đã đến rồi em
Con xao nhãng học hành
Nhớ trông kèm, bài tập
Trường lớp cô giáo giao.
Xuân đã đến rồi em
Gạo còn đủ tháng Giêng
Đừng tham công, tiếc việc
Xuống đồng sớm, lạnh chân.
Xuân đã đến rồi em
Ra đường nhớ quàng khăn
Đừng phong phanh áo mặc
Anh thao thức, em ho.
Xuân đã đến rồi em
Phút giao thừa xa cách
Hương vàng đừng vội đốt
Khói ùa mắt anh, cay...
Lê Mạnh Duy
11 khách và 1 thành viên
Gửi lòng con đến cùng Cha
Thu Bồn
Tháng 9-1969
Có người thợ dựng thành đồng
Đã yên nghỉ tận sông Hồng, mẹ ơi
Con đi dưới một vòm trời
Đau thương nhưng vẫn sáng ngời lòng tin
Đã ngừng đập một quả tim
Đã ngừng đập một cánh chim đại bàng
Nỗi đau vô tận thời gian
Nhớ thương nhưng chớ lệ tràn đẫm mi
Hành trang Bác chẳng có gì
Một đôi dép mỏng đã lì chông gai
Cho con núi rộng sông dài
Cho con lưỡi kiếm đã mài nghìn nǎm
Cho con những ánh trǎng rằm
Có quà có bánh lời thǎm ân tình
Bác là Bác Hồ Chí Minh
Qua lòng Bác thấu nghĩa tình bạn ta
Nhẹ nhàng nên Bác đi xa
Bác đi đi mãi vượt qua biên thùy
Tiếc rằng trước lúc chia ly
Con chưa thấy được dáng đi của Người
Hẳn trong đôi mắt sáng ngời
Vẫn nguyên vẹn một khoảng trời phương Nam
Con qua Cẩm Lệ sông Hàn
Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha
Hỡi Người những đất cùng hoa
Tấm thân hai cuộc xông pha trường kỳ
Hàng cây Bác đã xanh rì
Bóng râm tỏa mát đường đi loài người
Bác gieo giống bốn phương trời
Một ngòi bút cũng sáng ngời lưỡi lê
Bác nằm lòng trải ven đê
Quả tim khuya sớm đi về miền Nam
Bác đi dưới rặng dừa lam
Bác đi tóc trắng vườn cam chín vàng
Cầu treo lắt léo Bác sang
Bác bước nhẹ nhàng như thuở còn trai
Bác như ánh nắng ban mai
Chiếu soi bãi rậm truông dài con đi
Những hòn núi đá gan lì
Sát vai đứng trụ dưới vì sao xanh.
Những nòng súng thép long lanh
Gạt sương rẽ lá bǎng nhanh dập dồn
Bạn từ bãi biển Hirôn
Bạn còn đến kịp để hôn Bác Hồ
Mà con trông đợi Bác vô
Ngắm phương Bắc nhớ Thủ đô quặn lòng
Con xin gửi nắm đất nồng
Chắn che giữ nước sông Hồng đương lên
Cho con làm một mũi tên
Xòe nǎm cánh nhọn giương trên thành đồng
Việt Nam ơi giống Tiên Rồng
Bốn nghìn nǎm lấy máu hồng làm hoa
Gửi lòng con đến cùng Cha
Chiến công đất nước kết hoa triệu vòng.
QĐND - Trong nhóm Xuân thu nhã tập hoạt động trước năm 1945, người bắc nhịp cầu đầu tiên từ Thơ Mới sang thơ hiện đại chủ nghĩa không ai khác là Nguyễn Xuân Sanh, người chưa phải là tài năng nhất, nhưng là trẻ nhất và táo bạo nhất trong nhóm. Nguyễn Xuân Sanh thơ chỉ vẻn vẹn có mấy bài: “Buồn xưa”, “Hồn ngàn mùa”, “Bình tàn thu”… Trong đó “Buồn xưa” là tiêu biểu:
"Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
Rượu hát bầu vàng cung ướp hương
Ngón hường say tóc nhạc trầm mi
Lẵng xuân
Bờ giữ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa
Buồn hưởng vườn người vai suối tươi
Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời
Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu
Duyên vàng da lộng trái du người
Ngọc quế buồn nào gội tóc xưa
Hồn xa chĩu sách nhánh say sưa
Hiến dâng
Hiến dâng quả bồng hường
Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa
Đường tàn xây trái buổi du dương
Thời gian ơi tưới hận chìm tường
Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi
Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương".
Thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu trụ vững trên hai chân của lô-gích và hữu thức. Các con chữ, các hình ảnh đứng cạnh nhau theo sự tương cận. Từ đó, dòng cảm xúc, mạch nghĩ suy, sự liên tưởng mang tính liên tục. Thơ các ông dễ hiểu là vậy: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu). Qua lời nắm được tứ, qua tứ nắm được ý.
Sự dễ hiểu trong Thơ Mới buổi đầu đưa lại dần dà hình thành một thói quen xấu là đọc thơ để tìm tâm sự, tìm ý tưởng mà nhà thơ cài vào. Nếu bóc mãi những lớp lá ngôn từ của một chiếc bánh-thơ mà không tìm thấy chiếc nhân-tư-tưởng đâu cả thì người ta cho đó không phải là thơ, mà là một sự lừa gạt.
Cú sốc mà “Buồn xưa” gây ra, đó là sự phá vỡ tính liên tục của dòng cảm xúc và mạch liên tưởng trong thơ. Các con chữ, các hình ảnh đứng kề cận nhau, không có một quan hệ nào với nhau, trước tiên là quan hệ cú pháp. Chính sự đứt đoạn này là nguyên nhân của sự khó hiểu. Ngày nay, hơn 60 năm sau, tôi nghĩ, phần đông độc giả của “Buồn xưa” vẫn còn đồng ý kiến với Lê Huy Vân khi ông cho rằng: "Người ta có cảm giác tác giả đã viết rất nhiều "chữ một" vào những mảnh giấy, gập lại để vào trong một cái mũ trắng rồi rút ra từng tờ, biến những chữ tìm thấy chữ nọ cạnh chữ kia, đủ bảy chữ lại xuống dòng" (Báo Thanh Nghị số 21, ngày 16-9-1942). Cả bài thơ như một sự ghép chữ, mỗi dòng thơ là bảy con chữ đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên. Thực ra, đọc thơ Đường đôi khi chúng ta cũng có cảm giác như vậy. Mỗi câu thơ gồm những cụm từ tạo thành mà chẳng thấy có sự liên kết nào:
"Nguyệt lạc/ ô đề/ sương mãn thiên
Giang phong/ ngư hỏa/ đối sầu miên"
(“Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế)
Tuy nhiên, sự giảm thiểu đến tối đa chức năng cú pháp ở đây được bù lại bằng sự ngắt nhịp cố định, sự đăng đối trong nội bộ một câu thơ và giữa những câu thơ với nhau, và toàn bộ niêm luật của bài thơ, nên câu thơ vẫn hiểu được. Nhưng ở “Buồn xưa” thì không có quy luật, là sự bất định hay sự tự do tuyệt đối. ở đây, mặt bằng hữu thức bị rạn nứt, lô-gích bị phá vỡ. Bài thơ đã bắt đầu có sự tham dự của tiềm thức và vô thức với tư cách là đồng chủ thể sáng tạo.
Nói “Buồn xưa” có sự tham gia của tiềm thức hoặc vô thức là nói đến tính phi lô-gích, một đặc tính khác của thơ hiện đại: Thơ Siêu thực. Khác với hiện thực nằm ở tầng hữu thức, siêu thực là một thực tại nằm ở cõi vô thức, nên nó thực hơn. Thực tại này thường được biểu hiện ở giấc mơ, ở trạng thái mơ mộng (tức mơ khi thức) và ở những dòng thơ được sáng tác theo lối viết tự động (écriture automatique). Cũng như trong giấc mơ, các hình ảnh của bài thơ đứng cạnh nhau một cách tình cờ. Nếu ở thực tại hữu thức, ở thơ lãng mạn, thì các từ như “hồn” và “xanh”, “rượu” và “hát”, “ngón” và “hường”, “chiều” và “đọng”… sẽ không bao giờ ở cạnh nhau, bởi giữa chúng có cả một bức tường lô-gích, chúng cứ ở cạnh nhau: “Hồn xanh”, “rượu hát”, “ngón hường”, “chiều đọng”… Và chính việc làm gần lại những cái không thể gần này đã làm cho hình ảnh trở nên khác lạ, phi lý và bùng nổ những nghĩa mới, nhiều khi bất ngờ với cả người sáng tạo. Đặc biệt, chữ “ngàn mày” trong câu “Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời” làm chúng ta thoạt đầu thấy rất chướng. Ta tưởng như đấy là một lỗi mo-rát, bởi ý thức ta chỉ quen với ngàn mây, với mây ngàn. Và nếu là ngàn mây thì sẽ là một câu thơ đẹp, một vẻ đẹp quen thuộc. Nhưng ta thấy ngàn mày là nói về giai nhân, về con người, đứng cạnh và đối xứng với tràng giang là thiên nhiên, ta bỗng hiểu:
"Ngàn mày/ tràng giang/ buồn muôn đời"
(Con người-thiên nhiên: Buồn muôn đời)
Mất liên hệ cú pháp, liên hệ ngữ nghĩa, câu thơ của "Buồn xưa" vỡ ra thành các đơn vị độc lập. Ví như Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi có thể phân rã thành 6 đơn vị, trong đó hầu như mỗi con chữ là một đơn vị: Quỳnh hoa (hoa Quỳnh)-(buổi) chiều-(ngưng) đọng-(âm) nhạc-(hương) trầm-mi (mắt). Các con chữ trong tình trạng tháo rời này khiến mỗi từ được hoàn nguyên trở lại làm một hình vị, do đó khả năng kết hợp (hóa trị) với các từ-hình-vị khác là rất lớn (giá trị). Mỗi từ không chỉ có thể kết hợp với từ bên cạnh, mà cả với những từ cách quãng nó. Và trong mỗi một đường dây liên kết này lại tạo ra một nghĩa mới cho câu thơ.
Từ đó, một câu thơ có khả năng phát nhiều nghĩa:
- Hoa Quỳnh, buổi chiều, đọng nhạc, trầm mi.
- Nhạc, trầm, mi, như đọng trên hoa Quỳnh, buổi chiều.
- Hoa Quỳnh, buổi chiều, nhạc êm, trầm hương ngát, mi đắm say.
Như vậy, con đường Nguyễn Xuân Sanh khai phá là: Từ hữu hạn những con chữ của một bài thơ có thể mở ra vô hạn cách kết hợp (ít ra trên bình diện lý thuyết). Những đường dây ngữ nghĩa làm tăng các chiều kích của không gian thẩm mỹ.
Đó cũng là con đường "nổi loạn" của ngôn ngữ thơ. Từ chỗ là một công cụ, ngôn ngữ thơ đã thoát khỏi thân phận phương tiện để trở thành mục đích. Với “Buồn xưa”, ngôn ngữ thơ đã đòi được quyền sống độc lập của nó. Toàn bộ sự bí ẩn của "Buồn xưa", như vậy, nằm ở tính gián đoạn và tính phi lô-gích trong dòng mạch cảm xúc và liên tưởng thơ. Xét cho cùng, tính gián đoạn và tính phi lô-gích ấy là hậu quả của cách đọc tuyến tính, đọc theo chiều ngang, chiều thời gian, chiều văn xuôi, chiều tiếp nối của những con chữ theo tư duy nhân quả. Để khắc phục sự gián đoạn đó và lấp đầy những khoảng cách do sự liên tưởng nhảy cóc bỏ lại, phải thiết lập một tính liên tục tuyến tính ở bề sâu, bề sau, tức đọc theo chiều dọc bài thơ, chiều không gian, chiều thơ, chiều những con chữ có mặt đồng thời với nhau.
“Buồn xưa”, với cách đọc phi tuyến tính này, là một thiên hồi tưởng, là một giấc mơ trong một giấc mơ:
Thi nhân nhớ người đẹp, mường tượng giai nhân trong quá khứ. Người ta có thể thấy mạch đi của ký ức qua những từ như “gợi” (“Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu”), “chở” (“Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y”) rồi “mùa xưa”, “buồn xưa”… Sau đó là chân dung người đẹp ẩn hiện qua những chi tiết siêu thực (tức cực thực) như trong tranh Đa-li, nằm trong một tổng thể trừu tượng như tranh Kan-đin-xki: Mi mắt (“Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi”), tóc (“Ngón hường say tóc nhạc trầm mi”), lông mày (“Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời”), môi (“Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu”), vai (“Buồn hưởng vườn người vai suối tươi”), vú (“Nhài đài đàn rót nguyệt vú đôi thơm”) rồi da, ngực, hồn, xiêm y… Không gian có âm nhạc (“Ngón hường say tóc nhạc trầm mi”), (“Rượu hát bầu vàng cung ướp hương”), hoa quả (“Lẵng xuân”/"Bờ giũ trái xuân sa”/ “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”), trăng (“Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm”)… Thời gian là mùa thu (“Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu”), đêm trăng (“Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm”)… Đây là một bài thơ tình yêu, một tình yêu đã đi vào dĩ vãng, thành nỗi buồn xưa nhưng không ngừng ám ảnh thi nhân.
PGS, TS ĐỖ LAI THÚY